Protected: Một khi lòng đã chán! (và password rất đơn giản thôi)
Trò chuyện với nhà toán học Ngô Bảo Châu
“Một bài phỏng vấn rất Phan Việt” – Trinity Tạ Ngọc Kiên
“Đọc xong em nhớ đến cuốn sách Nga dạy guitar hồi bé em đọc để học guitar. Cuốn sách là các mẩu đối thoại của bố và con trai, bàn về lịch sử âm nhạc, guitar và các kiến thức căn bản cần luyện tập” - Giang Thu Quang
“Còn mình đọc đến câu cuối bài thì nhớ đến ” Phía sau nghi can X”
” – Đậu phộng Phát Lạc và phu nhân Trương Nguyễn Thu Cỏ
Bravo tinyhuong Phan Việt. Chi bộ luôn dõi theo hành tung của nữ đồng chí trên giang hồ =))
Và dưới đây là bài phỏng vấn trên Tia sáng.
—————
Trò chuyện với nhà toán học Ngô Bảo Châu
| Phan Việt |

Tôi gặp anh Châu lần đầu vào cuối tháng 1-2010, lúc anh đã nhận lời sang Đại học Chicago làm giáo sư. Trong lần gặp đầu tiên đó, anh Châu đi cùng với hai người bạn chung của chúng tôi ở Chicago; chúng tôi hẹn nhau đi ăn tối ở trong khu Việt Nam. Hôm đó, trời rét đậm. Anh Châu mặc một chiếc áo choàng dài màu đen và đội mũ len; dáng người nhỏ, đôi mắt chắc chắn của người thường xuyên phải đọc và mái tóc đã bạc nhiều. Cảm giác đầu tiên không thể nhầm lẫn khi gặp anh Châu: anh Châu là một người rất giản dị và cởi mở. Trong xe ô tô trên đường vào khu Việt Nam, anh phụ họa đọc thơ với một người bạn.
Hôm đó, chúng tôi không có dịp nói chuyện nhiều. Điều mà tôi nhớ nhất là trong câu chuyện, anh hỏi tôi “Viết văn chắc là khó lắm nhỉ?”. Câu hỏi ấy làm tôi nhận ra có thể không chỉ có tôi thấy khó hình dung về công việc của một nhà toán học như anh, mà ngược lại những người làm toán có lẽ cũng không biết nhiều về công việc của người làm nghệ thuật. Nhưng có thể, toán học và văn học nói riêng, cũng như khoa học và nghệ thuật nói chung, đều chỉ là việc dùng những ngôn ngữ và công cụ khác nhau để mô tả và giải thích thế giới. Và đấy là lí do tôi đề nghị anh Châu cho tôi phỏng vấn anh trong lần gặp sau, với mong muốn rằng việc biết rõ thêm một chút về hành trình công việc và hành trình cá nhân của anh có thể giúp rất nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau có thêm niềm tin với những gì họ theo đuổi.
Chúng tôi đã hẹn sẽ gặp nhau lúc 9 giờ sáng ở nhà anh rồi đi bộ vào trường. Đầu tháng Tư, Chicago đã có nắng ấm; hoa tulip, thủy tiên và mộc lan bắt đầu nở trên mặt đất mặc dù lá chưa mọc trở lại trên các cây cổ thụ dọc các con đường trong khu Hyde Park. Chúng tôi mua cà phê ở Reynold Club rồi vào Hutch Commons ngồi. Hutch Commons là phòng lớn, nơi sinh viên và cả các giáo sư thường tới ngồi làm việc, ăn trưa, gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp. Căn phòng cao, với nhiều cửa sổ lớn gắn kính màu đón nắng mặt trời. Dọc hai bên tường có treo ảnh các đời hiệu trưởng của trường. Lúc này còn sớm và lại là thứ Hai nên trong Hutch Commons chỉ có vài ba sinh viên ngồi rải rác làm bài tập. Chúng tôi chọn một bàn ở góc trong cùng của căn phòng. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng việc tôi thú nhận rằng tôi không biết sẽ phải phỏng vấn như thế nào; anh Châu nói thôi thì cứ nói chuyện bình thường thôi. Tôi ghi lại đây một số đoạn từ cuộc “nói chuyện bình thường” này và giữ nguyên cách xưng hô “anh-em” để trung thực với cuộc trò chuyện.
Phan Việt (PV): Anh có nói với em là anh muốn đi khỏi Princeton sang Chicago bởi vì Princeton không có cảm giác cuộc sống. Cái “cảm giác cuộc sống” đấy chính xác là cái gì? Anh tìm kiếm điều gì?
Ngô Bảo Châu (NBC): Anh sinh ra ở 47 Hàng Bài, lúc nào cũng có 1 triệu người quay xung quanh; ở Princeton không đủ 1 triệu người quay xung quanh, nên thấy thiếu cảm giác cuộc sống (cười). Đùa vậy chứ thật ra thì anh thích Hyde Park này; nó ở trong thành phố lớn nhưng mà nó vẫn đủ nhỏ. Nếu anh ở một mình thì đơn giản, nhưng có trẻ con thì ở Hyde Park này là một lựa chọn tốt.
Thế tức là trong quyết định của anh, trẻ con là một phần rất quan trọng?
Ừ, tất nhiên rồi. Không, tức là nó có hai phần; một phần là trẻ con, phần nữa là về khoa học thì anh thích mấy người ở trường Chicago này. Về toán thì Chicago thực ra là xuất sắc, nhất là trong ngành của anh.
Ngành của anh chính xác là gì ạ?
Anh làm cái nó gọi là algebraic geometry (hình học đại số) và chương trình Langlands. Nó cũng rộng. Cho nên cái Bổ đề mà anh vừa viết ấy, anh viết 8 chương, 200 trang, thì anh vừa nhận được 6-7 cái report của những người đọc kiểm tra các phần khác nhau, có người thì đọc toàn bộ, có người thì đọc một phần thuộc về chuyên môn của người ta thôi, để xem nó có chính xác chặt chẽ không. Ai có chuyên môn phần nào thì đọc phần đấy… vì ngoài chuyện chuyên môn thì đọc như thế cũng là một việc mất thời gian mà cũng là cái hy sinh của người ta; một bài đấy cũng phải mất vài tháng để đọc nếu có chuyên môn, còn nếu không có chuyên môn thì phải lâu hơn.
Nhân anh nói chuyện hy sinh… Lúc mà tạp chí Time công bố là công trình của anh nằm trong 10 công trình khoa học lớn nhất năm 2009 thì VnExpress có đưa tin về chuyện đó và chuyện anh về Chicago dạy học. Em không biết là anh có đọc những ý kiến bạn đọc ở bên dưới không…
Anh có đọc loáng thoáng.
Thì có một số ý kiến nói nào là chảy máu chất xám, nào là lẽ ra anh phải về Việt Nam cống hiến. Anh có cảm thấy đòi hỏi như vậy là bất công với anh không?
Anh không thấy bất công … nói chung là có một số ý kiến mà nó… nó ấu trĩ đến mức mà anh không thể nào quan tâm được (cười). Anh cảm thấy là anh đã qua cái tuổi mà anh còn chịu áp lực xã hội rồi. Tất nhiên là anh vẫn chịu áp lực từ một số người mà mình quan tâm ý kiến của họ; ý kiến của họ chính xác thì làm anh suy nghĩ; còn có nhiều ý kiến xuất phát một là từ sự ấu trĩ, hoặc là từ sự ghen tị thì anh không để ý.
Nhưng mà, để đi đến cái chỗ biết cái gì là ấu trĩ để mà bỏ qua cũng là cả một quá trình, đúng không ạ? Lúc đầu có lẽ mình không làm được như vậy đâu; kể cả mình biết là người ta nói vô lí thì mình vẫn đau…
Anh nghĩ là… thực ra để đạt đến sự ổn định thì mình phải có sự nhạy cảm nhất định với cuộc sống. Một khi mình đã đau thì mình đừng nhắm mắt bịt tai, mà mình phải cố gắng phân tích cho đến cùng cái đau đấy, hoặc là cái ngu ngốc của mình. Anh thực ra không phải là người có nhiều va chạm xã hội; chỉ có điều là mỗi một lần va chạm thì anh chịu khó phân tích cái va chạm của mình; thì mỗi lần va chạm, mình càng đau mà mình càng chịu khó phân tích thì mình càng hiểu, hiểu mình và hiểu người khác hơn.
Nhưng nếu như mình cứ phải phân tích để biết cái gì không đáng làm mình đau, thì nó cũng có thể làm mình chai sạn, mệt mỏi. Có thể với toán học thì khác; nhưng với nhà văn chẳng hạn, nếu mà mình cố gắng lý trí để không làm mình đau thì mình cũng có khi làm mất cái con mắt quan sát thuần khiết của mình đi…
Làm toán thì tất nhiên nó hơi khác nhưng nó cũng có cái giống như thế. Bởi vì làm toán thực ra là cực kỳ violent (bạo lực) với bản thân mình, lúc nào mình cũng phải lý trí, không bao giờ được chiều bản thân mình, không được chiều theo cái ham muốn hiện tại. Với lại, toán cũng có cái mâu thuẫn giống như em nói. Một mặt nó cũng là một dạng profession (nghề nghiệp), tức là nó cũng có những hoạt động của nó; tức là phải đi làm seminar, đi làm hội thảo, viết báo cáo; tức là nó cũng phải có những thủ tục; cộng đồng thì bao giờ cũng phải có thủ tục; nhưng nếu có thủ tục mà thành chuyên nghiệp quá thì vô thức nó cũng có thể giết đi cái trong sáng, cái khởi thủy của người làm toán, tức là cái con mắt trong sáng của trẻ con, cái gì mình cũng muốn hiểu ngọn ngành từ đầu đến cuối, trong khi nếu mình thành chuyên nghiệp thì mình chỉ chú tâm để ý những cái gì đang nổi, đang mới, đang là mốt, làm cho mình quên đi cái cơ bản nhất. Nếu muốn làm nhà toán học giỏi thì không thể để mất đi cái cơ bản. Thực ra anh viết blog Thích Học Toán một phần là như thế; vì lúc nào anh cũng có điều kiện xem lại những thứ cơ bản nhất.
Em muốn quay lại với chuyện về tìm kiếm “cảm giác cuộc sống” mà anh đã nói. Với văn học, người ta có khái niệm cảm hứng rất rõ ràng và nó thường xuất phát từ cuộc sống. Thế với toán học thì nguồn cảm hứng đấy ở đâu ra?
Nó là bài toán toán học. Nhưng mà bài toán toán học, khi mình đã làm việc đủ lâu với nó, thì nó cũng hiển hiện như là một xã hội; nó có hình tròn, hình cầu, hình méo…
Nó có đem lại cảm giác say mê như với say mê nhân vật, say mê ngôn ngữ không ạ? Tức là có cái cảm giác mình không thể sống được nếu mình không làm toán?
Tất nhiên nếu anh không làm toán thì anh cũng không đi tự tử (cười) nhưng mà… nó là cái phần cơ bản của mình, nó là một nguồn hạnh phúc lớn. Mà anh không nói đến làm toán theo kiểu chỉ có nghiên cứu viết báo cáo đâu, anh nói đến việc mình liên tục đọc sách, xem cái mới, cái cũ, tìm kiếm, suy nghĩ, nó là một hành trình liên tục…
Cái hành trình và cái hạnh phúc đấy nó liên quan nhiều đến sự phát triển nội tâm của mình, đúng không? Nó gắn với hành trình phát triển của con người mình.
Đúng rồi. Anh nghĩ là nếu một người mất cảm giác mình vẫn còn nhiều cái không biết thì không thể nào làm được cái gì hay ho nữa. Cho nên phải học. Ví dụ như anh thì có một cái kém mà nhiều lúc cũng khó xử đấy; tức là anh cảm tưởng cái gì anh cũng không biết rõ lắm, cái gì anh cũng biết lơ mơ; dĩ nhiên cái mà anh làm thì anh biết rõ còn lại thì anh rất lơ mơ, nhưng anh lại không có thói quen giấu cái sự lơ mơ đấy; thế thì nó khó xử là đi đâu lúc đầu người ta cũng trọng vọng mình, nhưng xong rồi người ta hỏi cái gì mình cũng không biết thì có khi cũng khó xử vì ở những vị trí nhất định thì mình không thể xuề xòa quá được… Cho nên bây giờ anh cũng phải học. Đấy, mình phải giữ cái ham muốn học hỏi, và mình cũng phải học cách chia sẻ nữa. Cũng phải chọn người mới chia sẻ, đâu phải ai cũng chia sẻ được, vì nhiều khi nó có thể làm mình rất tổn thương; ví dụ là có những cái mà mình quý nhất thì người ta lại coi thường.
Trong văn học, anh thấy là có khái niệm “văn phong” rất là rõ ràng. Toán học thì có khái niệm phong cách riêng không?
Có chứ, nhưng nói chung là nó hơi khác, vì toán thì… khi mà nó đến cái mức hoàn hảo thì nó không còn có tính cá nhân nữa, nó vô tính, nó trong sáng đến mức không biết là ai nữa mặc dù style làm toán thì cũng có tại vì cái cách suy nghĩ của mỗi người thì có khác nhau.
Thế style của anh là gì nếu anh phải mô tả bằng một vài từ?
Anh cũng không rõ nhưng mà anh làm toán hầu như không bao giờ cần giấy cả.
Anh cứ nghĩ trong đầu?
Ừ, anh không cần phải ngồi tính toán, anh cứ nghĩ đến một lúc mà anh cảm tưởng là được rồi thì anh ngồi viết ra; lúc đó lại phải lắp ghép lại. Thực ra cái quá trình viết ra đấy là quá trình hiện thực hóa vì lúc mình nghĩ thì nó giống như là mình xây dựng cả một thế giới của mình, nó có nhiều đường, nhiều ngã rẽ; đến lúc mình viết ra giấy thì mình phải viết tuần tự. Có những bài toán đơn giản thì dễ nhưng với bài toán phức tạp như cái Bổ đề vừa rồi thì anh viết rất nhiều lần; lúc mới bắt đầu viết, anh cũng không biết là viết thế nào cả… anh cũng phải chuẩn bị rất nhiều… như văn chắc là cũng phải chuẩn bị, nhưng văn thì có thể chuẩn bị thừa một chút chứ toán thì về mặt nguyên tắc là không được chuẩn bị thừa cái gì cả, chỉ viết cái gì cần thiết, đúng như thế thôi, không dài hơn. Lúc đầu anh viết thì anh không biết chính xác là cái gì mình cần, bởi vì nó là cả một cái hệ thống, anh cứ mô tả dần dần cho đến cuối cùng, sau đó thì mới quay lại sửa. Cái quá trình đấy cũng tương đối là painful (khó khăn), vì lúc mình nghĩ trong đầu thì kể cả mình suy nghĩ nhiều, mình cũng không thể nào chặt chẽ 100% được, có nhiều chỗ lúc nghĩ thì mình bảo chỗ này được rồi, có thể bỏ qua, mình sẽ làm được, cái đấy là do kinh nghiệm thì mình biết và thường là cũng đúng, nhưng mà lúc viết ra, thì mỗi đoạn đấy lại phải bổ sung chi tiết, thì có khi mình thêm chỗ này nó lại phình ra chỗ kia.
Hôm qua em ngồi đọc về Viện IAS ở Princeton mà anh đang làm việc. Thì có người chỉ trích là cái viện đó thực ra cũng là chỗ giết chết nhiều người tài, tức là lúc trước họ làm được nhiều thứ tử tế, nhưng khi đến Viện thì không làm được gì nữa bởi vì sang đó chỉ phải ngồi nghiên cứu thôi, không có áp lực dạy học hay làm gì nếu không muốn, cho nên họ đi đến chỗ cô lập, bế tắc. Anh có nghĩ là đứng về mặt sáng tạo, việc được “bao cấp” và không có áp lực như thế là cái có hại?
Với một số người thì nó có hại thật. Có những người, khi họ không còn chịu áp lực phải xuất bản công trình nghiên cứu nữa, thì họ chẳng làm gì cả. Nhưng ngược lại nếu phải chịu áp lực xuất bản nhiều quá, như ở Mỹ này áp lực lớn quá thì người ta cũng in nhiều thứ nhảm nhí chẳng ai đọc.
Em thấy rác nhiều lắm.
Nhưng không có cái áp lực xuất bản công trình nghiên cứu đấy thì cũng nguy hiểm. Cho nên anh vẫn nói làm khoa học nó có hai mặt; một mặt mình vẫn phải giữ cái con mắt trong sáng của người muốn tìm hiểu, một mặt mình vẫn phải giữ con người làm việc chuyên nghiệp. Đến hẹn mình vẫn phải tham gia hội thảo, làm thuyết trình, đấy là việc mình phải làm, mình không nên từ chối bởi vì khi mà mình từ chối, mình tự rút ra khỏi xã hội thì không sớm hay muộn mình cũng bị thoái hóa. Thu mình vào thì nhiều khi cũng cần thiết để mình có thể nghĩ lâu một cái gì đó nhưng mình cũng có thể bị một cái bệnh là bệnh chủ quan, tức là mình chỉ quan tâm đến cái mình nghĩ thôi mà mình lại quên mất nhiều thứ, và mình sẽ khó giao tiếp với người khác. Thì ở IAS có những người rất là giỏi, bài toán nào các ông ấy cũng giải được, mà ai có gì khó thì các ông ấy đến giúp; nhưng các ông ấy không thấy có động lực đủ lớn để làm thêm cái gì nữa, có lẽ họ đã chán toán rồi.
Lúc bé, anh có ý thức gì về việc thích toán không?
Anh có ý thức là mình muốn trở thành nhà toán học không? Lúc bé anh chẳng có ý thức gì cả. Lúc bé thì toán văn anh đều học giỏi cả nhưng bố anh bảo anh vào chuyên toán thì anh vào chuyên toán.
Thế thì anh có nghĩ là cần định hướng sớm cho trẻ con về nghề nghiệp không? Ví dụ như là hướng cho trẻ con trở thành nhà toán học hay bác sỹ hay kiến trúc sư?
Anh nghĩ là cũng không cần phải định hướng về mặt nghề nghiệp sớm như thế đâu. Với nhạc sỹ chẳng hạn thì anh không biết, có thể họ cần định hướng từ lúc rất bé; còn những nghề mà làm việc trí óc nghiêm túc thì nhận thức về nghề nghiệp nó phải là lúc mình trưởng thành rồi. Chẳng hạn như ông Langlands, ông ấy là một trong những người có ảnh hưởng mạnh nhất tới toán học thế kỷ 20-21, nhưng mà ông ấy thực ra cứ tự học, mà học toán cũng tình cờ; bố ông ấy là tiều phu, ông ấy không đi học trường trung học hay đại học nổi tiếng nào cả, đào tạo cơ bản của ông ấy thực ra bình thường; nhưng khi ông ấy đi học đại học bên Canada thì học cũng được, thế là thầy giáo toán của ông ấy bảo ông ấy đi làm PhD (tiến sỹ). Ông ấy bảo PhD là cái gì. Sau rồi ông ấy thấy ừ thì bây giờ được đi học có học bổng, mà lại được lấy vợ sớm nữa thì cũng thích (cười); thế là đi làm PhD. Cho nên anh thì anh không nghĩ chuyện định hướng nghề nghiệp sớm cho trẻ con là quan trọng.
Đối với các cháu nhà anh bây giờ anh có định hướng gì không?
Anh không định hướng gì cả.
Anh có dạy các cháu học không?
Anh có dạy. Thực ra mấy năm nay anh cũng bận nhưng anh có dạy, và anh cũng để ý rèn các cháu những thứ mà đối với anh là quan trọng, là có giá trị.
Ví dụ là thứ gì?
Ví dụ là đọc sách, là cố gắng viết đúng chính tả (cười)… vì cái gì bố không làm được thì con phải làm được2.
Đọc sách gì ạ?
Sách thì cũng đủ loại… đến bây giờ thì con gái lớn của anh cũng lớn rồi nên anh cũng không muốn áp đặt. Tất nhiên anh cũng cố gắng hướng dẫn một chút để nó không đọc sách nhảm nhí nhưng anh cũng không muốn áp đặt
Anh có kỳ vọng điều gì ở con anh không?
Anh chỉ kỳ vọng là chúng nó có một cuộc sống bình thường, hạnh phúc… anh không kỳ vọng chúng nó phải làm gì vĩ đại cả.
Nhưng anh có cảm thấy là mình đã biết đến cuộc sống trí thức và cái cuộc sống đấy làm cho nội tâm mình thanh thản, nó sạch, nó là một lựa chọn sống tương đối thích so với một số ngành nghề khác, thì anh có hướng các cháu vào cuộc sống đấy không?
Anh không nghĩ là cuộc sống trí thức là điều kiện bắt buộc để có cuộc sống trong sáng. Nhưng cái mà em nói đúng là quan trọng, tức là có cuộc sống nội tâm trong sáng là cái quan trọng. Nhưng mà có nhiều cách để đạt được chuyện đó. Đấy là một trong những cái mà lúc nào anh cũng muốn dạy cho trẻ con, tức là cách quan hệ xử sự với người khác, rồi là thái độ đối với của cải vật chất như thế nào, những chuyện đấy thì anh nói tương đối nhiều…
Nhân anh nói đến của cải vật chất…
Ừ (cười)
Bây giờ thì anh giàu rồi, đúng không ạ?
Ừ (cười)
Giả sử là anh không giải quyết được Bổ đề và anh cứ sống cuộc sống trung lưu hoặc nghèo khó đến hết đời, thì đối với anh điều đó có khó chấp nhận không? Có cái thời điểm nào mà anh nhìn ra rằng kể cả nếu mình chỉ sống nghèo khó như thế này hoặc mình không có tên tuổi gì đến hết đời thì điều đó cũng không sao?
Không, thực ra chưa bao giờ anh thấy bức bối lắm về chuyện thiếu thốn vật chất, kể cả lúc anh không nhiều tiền. Thực ra lúc nào anh cũng cố gắng ý thức cái chuyện là mình không ham muốn những cái không cần thiết cho mình; chỉ có lúc nào là mình cần mà mình không làm được thì cũng hơi bức bối; thực ra ở Việt Nam thì cái đấy cũng khó; nhưng ở nước ngoài thì việc hạn chế những cái không cần thiết, những cái phù phiếm cũng tương đối dễ dàng; cho nên chưa bao giờ anh cảm thấy bức bối về chuyện đó. Đồng lương của giảng viên đại học thì cũng đủ để sống trung lưu bình thường, nói chung là anh thích cuộc sống trung lưu.
| GS. Ngô Bảo Châu 1972: Chào đời tại Hà Nội. Là con trai duy nhất của Tiến sỹ cơ học Ngô Huy Cẩn và Tiến sỹ dược học Trần Lưu Vân Hiền. 1988: Huy chương vàng Olympic toán quốc tế tại Úc 1989: Huy chương vàng Olympic toán quốc tế tại Đức. Là người Việt Nam đầu tiên giành hai huy chương vàng Olympic toán. 1990: Sang Pháp du học tại Đại học Paris 6, sau đó là Đại học Ecole Normale Supérieure. 1997: Trở thành tiến sỹ toán; về công tác tại Trung tâm khoa học quốc gia Pháp 2004: Cùng nhận giải thưởng của Viện toán học Clay với Giáo sư Gerard Laumon cho công trình Bổ đề cơ bản cho các nhóm Unita. 2005: Được đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam và trở thành Giáo sư trẻ nhất của Việt Nam. 2007: Sang Princeton, Mỹ, làm việc tại Viện nghiên cứu cấp cao (Institute for Advanced Study) 2008: Hoàn thành chứng minh Bổ đề cơ bản trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. 2009: Kết quả chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands của Ngô Bảo Châu được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009. 2010: Ngô Bảo Châu sẽ báo cáo tại phiên toàn thể của Đại hội Toán học thế giới. Anh được đánh giá là một trong những ứng cử viên hàng đầu cho giải thưởng Fields – giải thưởng toán học tương đương với giải thưởng Nobel, được trao 4 năm một lần cho một nhà toán học dưới 40 tuổi. Anh cũng đã nhận lời về làm giáo sư toán tại Đại học Chicago kể từ mùa thu 2010. |
Nhưng mà em đang nói tới lúc anh trẻ hơn… em hỏi điều này bởi vì là anh đã thành công sớm, ta tạm gọi là như vậy, anh được 2 giải Olympic toán quốc tế, cho nên có thể có một số kỳ vọng hoặc sức ép thành công nào đó về mặt danh vọng hoặc của cải vật chất.
Không, thực ra thì có một cái là… dạo mà anh học cấp 2, cấp 3 chẳng hạn, anh cứ nghĩ đến những anh được giải toán quốc tế như là thiên tài vĩ nhân; xong đến lúc mình thi được giải thì mình thấy nó cũng… bình thường (cười). Thì vì anh coi chuyện đấy là bình thường cho nên anh cũng không thấy có áp lực gì. Lúc anh làm luận án thì cũng có khó khăn, nhưng mà làm việc gì cũng có lúc khó khăn cả; nó khó khăn là vì bản thân cái việc đó nó khó khăn chứ không phải là vì có sức ép xã hội; anh thì không tưởng tượng là xã hội kỳ vọng gì ở bản thân mình.
Có thể là toán học ít sức ép xã hội hơn vì xã hội không có cái kỳ vọng là ví dụ trong vòng 2 năm, anh Ngô Bảo Châu phải giải xong bài toán này. Nhưng với nhà văn, đôi khi có cảm giác sức ép là bởi vì nhà văn phải có sản phẩm là cuốn sách và phải công bố ở diện rộng hơn công trình toán học và ai cũng có thể phê bình…
Ừ, như lúc nãy anh nói là phải có thái độ rõ ràng với hai mặt của công việc mà hai cái đấy mình không thể xem nhẹ cái nào; một cái là chuyện học thuật của mình, còn một cái là đời sống xã hội của mình, cái cách mình cư xử với sức ép xã hội. Thì đối với sức ép xã hội, mình phải quản lý nó theo nghĩa là mình quản lý nó chứ mình không để nó ép mình; quản lý tức là những việc mình thấy nên làm, như việc dự hội thảo hay đi nghe thuyết trình thì cứ đúng đến ngày đến giờ là mình đi; nếu cái hội thảo đó có nghĩa cho công việc của mình, thì tuần nào cũng đến đúng giờ đấy là anh đi nghe, chứ mình không đi nghe theo kiểu là cứ thấy ông này nổi tiếng, ông kia nổi tiếng thì mình đi nghe. Anh nghĩ là trong đời sống giao tiếp với xã hội, nếu mình muốn giữ nó là một cái có ích cho mình thì mình phải rất kỷ luật, cứ tuần tự mà làm, mình không từ chối nó nhưng mình cũng không cố gắng ôm thêm vào người. Có thể mình đang theo đuổi một cái gì đó cần lâu dài, thì mình cứ làm nhưng trong lúc đó mình cũng nên làm một cái gì đó tuần tự để giữ vững tinh thần của mình…
Thế lúc tinh thần của anh không vững, tức là lúc anh nản chí ấy, thì anh làm gì?
Nói chung là lúc mà tâm lý đã đi xuống thì chỉ cứ đợi cho nó đi qua thôi.
Trên blog Thích Học Toán của anh, anh có nói đến một cụm từ là “15 cô đơn với Bổ đề”, và anh hứa là anh kể, nhưng anh vẫn chưa kể.
Từ lúc anh bắt đầu làm PhD, tức là năm 1993 ấy, thì đến giờ là 15 năm. Lúc mà anh làm PhD thì vấn đề của Langlands chẳng ai quan tâm, người ta coi là vấn đề chết; tức là mấy chục năm không ai làm được thì người ta không làm nữa. Cái luận án tiến sỹ của anh cũng gần giống với Bổ đề Langlands; nó là của ông Jacquet; nó dĩ nhiên là không nổi tiếng và không kéo theo quá nhiều những kết quả rực rỡ gì khác như Bổ đề Langlands nên người ta càng không để ý. Lúc anh làm PhD là khoảng thời gian thử thách tâm lý rất lớn; lúc đấy mình còn chưa tin lắm vào khả năng của mình. Mà lại còn có nhiều chuyện làm mình nản. Chẳng hạn như là ngay cái tên ấy, ông Langlands ông ấy đặt cái tên “Bổ đề cơ bản” nghe nó đã buồn cười rồi. Cái Bổ đề bình thường thì nó không phải là một kết quả quan trọng, nó chỉ là một kết quả trung gian thôi, người ta dùng cái đó để làm cái khác. Nhưng mà với Bổ đề Langlands thì vì sau này có quá nhiều thứ liên kết với nó, phụ thuộc vào sự vững chắc của Bổ đề cơ bản cho nên nó mới trở thành vấn đề trung tâm của ngành. Thì lúc mà anh đi phỏng vấn xin việc lần đầu ở Pháp ấy, người ta hỏi anh làm cái gì, anh bảo là anh làm Bổ đề cơ bản, thì đến một nửa cái hội đồng phỏng vấn là họ phá ra cười, vì nghe nó buồn cười, nghe nó ngớ ngẩn, vì người ta không biết ngành của anh. Tất nhiên là lần đấy anh không đỗ, sau này anh mới đỗ. Lúc đó thực ra không mấy ai tin là có thể giải quyết được Bổ đề Langlands; kể cả lúc anh sang Chicago năm 2001 rồi sang Princeton, thì lúc đó thực ra anh cũng chỉ có âm mưu giải quyết nó thôi, chứ anh cũng không chắc chắn lắm; có điều là lúc nào anh cũng giữ trong đầu một cái hy vọng là lúc nào đấy sẽ làm. Không biết em có thấy không, ở đây thì ít đấy chứ ở Princeton có rất nhiều những cái cờ xanh đỏ cắm trên bãi cỏ để đánh dấu chỗ này là đường ống nước, chỗ này là đường cáp điện, thì ở Princeton mọi người hay đùa đấy là cờ tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh vì Bổ đề Langlands (cười).
Thế nếu anh không làm được Bổ đề cơ bản thì nó có phải là một thất bại cá nhân nặng nề không? Nó có phải là một điều kinh khủng không?
Anh cũng không biết… Về bản chất anh không phải là người thích cuộc sống của mình trở thành dramatic (kịch tính). Nếu đã để nó trở thành một thứ như là một thất bại nặng của đời mình thì lại thành ra dramatic quá. Giả sử anh đã công bố anh làm được rồi mà hóa ra là giải sai thì lúc đó rất tệ; nhưng mà lúc anh chưa làm được thì thực ra cũng bình thường. Nó chỉ là một cái mình thích và mình làm thôi… Thực ra ấy mà, nhiều khi anh cũng muốn tìm ra một vấn đề mà mình không bao giờ làm được.
Vì sao ạ?
Vì, nói thật là, khi mình đang làm toán, khi mình đang theo đuổi một vấn đề thì nó vô cùng thú vị, nó như là một nguồn sinh lực sống với mình… Toán học ấy mà, lúc mình theo đuổi một vấn đề, thì thực ra là mình tự làm đau mình, đúng không? Như là tự hành hạ bản thân vậy. Nhưng mà làm xong rồi thì lại phải tìm chỗ khác để hành hạ tiếp (cười). Anh nghĩ là trong cuộc sống, bản chất con người là không thích sự ngẫu nhiên, bất định; mình chỉ muốn sự ngẫu nhiên ở một mức nhất định cho cuộc sống vui vẻ thôi, còn về bản chất thì mình muốn có một cuộc sống logic, mà để có cái logic đấy thì phải chọn một cái mục đích gì đó. Dĩ nhiên mục đích nó phải đủ cao quý thì nó mới vực được cuộc sống của mình lên, chứ mục đích mà thấp kém hèn hạ thì nó cũng chẳng thể là cứu cánh được cho mình. Nhưng bản thân cái mục đích đấy cũng chỉ là cách để mình tổ chức cuộc sống thôi, cho nó có hướng; nếu không thì cuộc sống của mình nó vô hướng. Anh cảm thấy đối với anh, việc tìm một bài toán để giải nó xuất phát từ nhu cầu tự nhiên là con người mình cần một cái mục đích để tổ chức cuộc sống của mình… nhưng nó chỉ là đích, mình không cần cố sống cố chết đạt được; cái chính là khi mà mình đi tới cái đích ấy thì mình phải biết cách thưởng thức con đường trong lúc mình đi. Cái đích chỉ là cứu cánh cho mình sắp xếp cuộc sống, để cho mình đi qua cuộc đời này một cách hạnh phúc thôi.
Thế cứu cánh tiếp theo của anh là gì?
Chưa tìm được cứu cánh tiếp theo… Chưa tìm được cứu cánh cụ thể. Vẫn đang đi tìm; phải đi tìm chứ.
Trường bất tử là thế nào?
Tức là… với thế giới thì có thể là anh chỉ được biết nhiều trong giới toán học; nhưng mà ở Việt Nam thì anh chắc chắn sẽ đi vào lịch sử rồi, có thể là sẽ có trường Ngô Bảo Châu, có đường Ngô Bảo Châu, có giải thưởng Ngô Bảo Châu, vv…
Thực ra thì đấy là cái đáng ngại nhất đấy, đấy chính là cái đáng ngại nhất…
Nhưng anh có tự hào về điều đó không?
Không.
Không tự hào?
Ừ… là vì từ bé anh đã có cảm giác là mình phải sống thế nào để sau khi mình ra đi thì mình không để lại dấu vết gì về bản thân nữa. Anh nghĩ là chuyện không để lại dấu vết gì cũng là chuyện quan trọng. Giống như trong cuộc sống bình thường, khi mình rời khỏi nơi nào đó hoặc làm xong chuyện gì thì mình nên thu dọn sạch sẽ để ra đi.
Nhưng mà Flaubert có nói là cứ đưa cho tôi một người anh hùng, tôi sẽ viết cho anh một bi kịch; có thể hiểu một nghĩa là sau người anh hùng nào cũng có bi kịch. Anh bây giờ là anh hùng rồi đấy, dù anh có muốn hay không. Thế anh có bi kịch nào không? Hoặc là một cái gì đấy mà đến cuối đời, nó có thể coi là một cái mà mình đã không dọn được sạch sẽ để ra đi?
(Cười)…
Ngần ngừ tức là có rồi (cười)
(Cười)
Em muốn hỏi cái này từ góc độ nhà văn. Với nhà văn hoặc người làm nghệ thuật, khi mà mình muốn làm cái gì tử tế ấy, thì nhiều khi mình phải cực đoan lắm. Ông Faulkner có nói là “nghĩa vụ duy nhất của một nhà văn là nghĩa vụ với nghệ thuật; tất cả những thứ khác như danh dự, tự trọng, cuộc sống ổn định, hạnh phúc cá nhân, tất cả, đều tung hê hết, miễn là có thể viết. Nếu cần phải ăn cướp từ mẹ đẻ để hoàn thành cuốn sách, thì một nhà văn cũng làm, nếu như anh ta thực sự là một nhà văn”. Anh nghĩ đối với người làm toán hoặc người làm khoa học nói chung thì nghĩa vụ cao nhất là nghĩa vụ với cái gì hoặc với ai?
Anh nghĩ là toán thì nó không cực đoan như thế, nhưng để làm cái gì tử tế thì mình cần có sự nghiêm túc. Nghĩa vụ của người làm khoa học là làm khoa học, tất cả những cái khác là hệ quả, chứ không phải cái mình tìm đến. Bởi vì giá trị của khoa học nó thể hiện chính xác ở sản phẩm khoa học mình làm ra.
Có thể là toán khác, vì toán không có tính personal (cá nhân) nhiều
Ừ, nó không personal, nó không quá quan tâm đến quan hệ xã hội như nghệ thuật hoặc văn học. Toán thực ra là quá trình giành giật chiến đấu với bản thân mình, nó không liên quan nhiều đến người khác, đến các quan hệ. Đấy, văn khổ là ai cũng tưởng mình hiểu, còn toán thì cứ yên tâm là người ta không hiểu (cười), đỡ lo lắng.
Thế thì với toán, cái lo lắng nhất là cái gì?
Toán học thì khó nhất chính là làm được lâu, tức là giữ được sự ham mê lâu. Hầu như đến 90% các nhà toán học khi già ấy mà, anh thì không nghĩ là vì họ già nên họ không làm được nữa đâu, mà là họ chán; khi thấy cuộc sống ổn định, đủ tiền tiêu, thì làm toán chỉ còn là một cái nghề, đến giờ thì đi dạy học, cũng làm nghiên cứu nọ kia nhưng nó không còn đam mê nữa
Anh có nghĩ là anh sẽ đến lúc đấy không? Lúc chán?
Bây giờ thì chưa chán. Anh nghĩ là để biết cách duy trì cái ham mê của mình cũng phải có nghệ thuật. Chính cái chuyện mà người ta muốn mình thành expert (chuyên gia) về một cái gì đấy là cái giết chết sự đam mê trong sáng của mình; cho nên mình phải chống trả quyết liệt cái chuyện đó. Cho nên là có khi mình phải đặt mình vào một tình trạng hơi kì cục, tức là tình trạng của người lúc nào cũng đang đi học.
Khi nói đến toán học, hoặc đến người như anh, người ta hay nói đến khái niệm trí thông minh và người ta cứ nói nó là bẩm sinh, có hoặc là không có chứ không luyện tập được. Anh có nghĩ thế không? Nếu có thể luyện tập được thì có thể luyện theo những cách nào?
Anh nghĩ là cũng phải có bẩm sinh, nhưng mà anh nghĩ cái bẩm sinh đó không phải hiếm như người ta nghĩ, rất nhiều người có cái bẩm sinh đó, nhưng mà cái quá trình rèn luyện trong làm việc mới đưa đến thành công.
Bây giờ em muốn hỏi anh một số câu hỏi ngắn, mà anh không được nghĩ, anh phải trả lời ngay… Hằng ngày anh dậy lúc mấy giờ?
7 giờ sáng.
Khi lên mạng anh làm gì?
Kiểm tra thư, đọc báo.
Món ăn mà anh thích… nhất? Hoặc một số món ăn.
Phở.
Thời gian trong ngày mà anh làm việc hiệu quả nhất?
Buổi sáng.
Mô tả một ngày bình thường của anh?
Sáng dậy ăn sáng, chuẩn bị cho các cháu đi học; đến khoảng 8 giờ rưỡi thì anh bắt đầu làm việc; đầu tiên là có email anh phải trả lời thì trả lời cho xong. Buổi sáng là lúc đầu óc sáng sủa nhất thì anh ngồi làm những thứ mà phải suy nghĩ nhiều nhất; ăn trưa xong đến chiều thì nếu có hẹn gặp người nào thì anh hẹn gặp nói chuyện buổi chiều. Đến cuối giờ làm việc thì anh trả lời nốt email anh phải trả lời; sau rồi chiều tối anh về nhà; cho trẻ con học, xong nếu còn đủ minh mẫn thì anh ngồi nghĩ tiếp hoặc anh đọc sách, rồi đi ngủ.
Anh có thường mơ trong lúc ngủ không?
Cũng hay mơ lung tung (cười).
Anh có đức tin tôn giáo nào không? Hoặc là cảm thấy anh gần với một tôn giáo nào đó?
Anh không tin cụ thể nhưng anh cũng thấy tôn giáo cũng thú vị. Anh đọc sách cả về đạo Phật và Thiên Chúa giáo; anh cũng chia sẻ một số suy nghĩ của họ nhưng bản thân anh không phải là con người tôn giáo theo nghĩa anh tin vào một cái gì đó; nhưng triết lý sống của họ có nhiều cái phải suy nghĩ.
Anh quan niệm thế nào là bất hạnh?
Bất hạnh nhất là không biết mình muốn cái gì.
Anh dễ tha thứ nhất cho tính xấu nào của con người?
Con người bình thường thì ai chả có nhiều tính xấu nhưng mà đối với anh thì chuyện đấy nó bình thường, anh không chỉ trích họ.
Phẩm chất hoặc tính cách mà anh đánh giá cao nhất ở một con người?
Không bao biện cho bản thân. Bao biện tức là có lúc mình xử sự sai, lẽ ra phải làm thế này thì mình làm khác; mình làm sai và sau đó mình luôn tìm cách viết lại lịch sử của bản thân. Trên blog Thích Học Toán, anh có viết về phim Rashomon, em đã xem phim đó chưa?
Em chưa.
Phim đó là một phim tuyệt hay.
Nhưng em nhớ anh có viết là đừng bao giờ viết lại lịch sử của bản thân để làm cho mình thấy tử tế hơn, để có thể sống với bản thân mình…
Đúng rồi.
Nhà văn, nhà thơ mà anh yêu thích?
Nhà thơ thì hồi xưa anh thích Quang Dũng. Nhà văn thì anh thích Thomas Mann với J.M. Coetzee.
Tài năng hoặc năng khiếu bẩm sinh mà anh muốn có nhất?
Có lẽ nếu có một điều ước thì anh muốn có năng khiếu âm nhạc.
Anh có chơi giỏi một môn thể thao nào không? Hoặc có quan tâm đến thể thao?
Càng ngày càng ít quan tâm. Ngày trước thì anh cũng thích bóng đá.
Mong muốn lớn nhất của anh bây giờ là gì?
Tìm lại nhịp sống bình thường để làm toán trở lại. Thời gian vừa rồi anh cũng nhiều việc, chuyển nhà rồi đi lại.
Câu hỏi này có lẽ hơi buồn cười. Triết lý sống hoặc khẩu hiệu sống của anh là gì?
Không để lại dấu vết.
Nhiều người bảo anh có nụ cười hiền. Anh có nghĩ “hiền” là từ chính xác để mô tả anh không?
Anh nghĩ là đúng… Em không nghĩ thế à?
Không, em nghĩ là đúng. Ngô Bảo Châu là một người hiền.
Anh đã bắt đầu ngấm cái chuyện anh rơi vào trường bất tử chưa?
4-2010
————————
1 Blog Thích Học Toán của Ngô Bảo Châu: http://www.thichhoctoan.org
2 Trên blog Thích Học Toán, anh Châu thỉnh thoảng viết sai chính tả và anh thường đùa rằng tình hình chính tả của anh rất nan giải.
| Nhà văn Phan Việt (1978) là tác giả hai tập truyện ngắn Phù Phiếm Truyện; Nước Mỹ, nước Mỹ, và tiểu thuyết Tiếng Người. Chị vừa hoàn thành chương trình tiến sỹ ngành công tác xã hội tại Đại học Chicago và sẽ trở thành giáo sư đại học (assistant professor) tại Mỹ từ tháng 7-2010. |
Bỏ thuốc lá – Orhan Pamuk
Tôi sẽ không bao giờ hút thuốc lại, không bao giờ hết.
Tôi nói điều này, thế nhưng tôi vẫn có những giấc mơ ngày trong đó tôi hút thuốc. Nếu tôi nói các giấc mơ ngày ấy bí mật lắm, đáng sợ lắm, rằng ta giấu giếm chúng khỏi bản thân chúng ta… thì bạn có hiểu được chăng? Dù thế nào, ngay giữa một giấc mơ ngày như vậy, đang định làm bất kỳ việc gì vào đúng thời điểm đó, như thể là xem bộ phim-giấc mơ của tôi chầm chậm tiến đến đỉnh điểm, tôi cảm thấy sung sướng hệt như lúc tôi châm một điếu thuốc.
Đó chính là mục tiêu chủ chốt của những điếu thuốc lá trong đời tôi: làm chậm lại trải nghiệm về khoái lạc và đau đớn, ham muốn và thất bại, buồn và vui, hiện tại và tương lai; và ở bên trong mỗi cái, tìm ra những con đường và lối đi tắt mới. Khi các khả năng ấy biến mất, con người ta sẽ cảm thấy gần như là bị trần truồng. Bị tước bỏ mọi thứ và bị tuyệt vọng.
Một lần tôi lên một cái taxi, tài xế hút thuốc không ngừng, bên trong xe cuồn cuộn một thứ khói tuyệt đẹp. Tôi bắt đầu hít thứ khói ấy vào người.
“Xin lỗi nhé,” người tài xế nói. Anh ta hạ cửa kính xuống.
“Đừng,” tôi nói, “cứ đóng cửa lại đi. Tôi bỏ thuốc rồi.”
Có thể rất lâu tôi không cảm thấy thèm thuốc, nhưng khi đã lên cơn thèm, thì cơn thèm ấy xuất phát từ thẳm sâu trong con người tôi.
Khi đó tôi được nhắc nhở về một bản thân đã bị lãng quên, một bản thân bị phủ lấp bởi các loại thuốc uống, sản phẩm, cảnh báo liên quan tới sức khỏe. Tôi muốn được là cái con người khác ấy, Orhan mà tôi từng là, người hút thuốc, người chiến đấu chống Quỷ giỏi hơn rất nhiều.
Câu hỏi hiện ra khi tôi nhớ bản thân xưa cũ không phải là liệu tôi có nên châm một điếu thuốc hay không. Tôi không còn cảm thấy nỗi cồn cào hóa học ngày xưa. Chỉ là tôi nhớ bản thân xưa cũ, đúng cái cách tôi nhớ một người bạn thân thiết, một khuôn mặt; tất cả những gì tôi muốn là quay trở lại làm người tôi từng là. Tôi cảm thấy như thể mình bị buộc phải vận những thứ quần áo mà tôi không chọn, như thể người ta đã biến tôi trở nên một con người tôi chưa bao giờ muốn là. Nếu hút thuốc, tôi sẽ cảm thấy lại độ căng của đêm, những nỗi kinh hoàng của con người tôi nghĩ tôi từng là.
Khi mong muốn quay trở lại với bản thân cũ, tôi nhớ những ngày ấy tôi đã có những gần gũi mơ hồ với bất tử. Xưa kia, thời gian không trôi; những khi hút thuốc, có lúc tôi cảm thấy niềm hạnh phúc đó, hoặc niềm tuyệt vọng căng thẳng đó, lúc tôi nghĩ mọi thứ sẽ cứ giữ nguyên không thay đổi. Trong khi tôi thản nhiên hút điếu thuốc của mình, thế giới thật yên.
Rồi tôi bắt đầu sợ cái chết. Người hút thuốc ấy có thể ngã lăn ra chết bất cứ lúc nào; mọi thứ nghiên cứu đều rất thuyết phục về điểm này. Để tiếp tục sống, tôi phải phế bỏ kẻ hút thuốc để mà trở thành một ai đó khác. Điều này thì tôi đã thành công được. Giờ đây cái bản thân tôi từng từ bỏ đã đến nhập vào với Quỷ để kêu gào gọi tôi quay trở về những ngày thời gian không bao giờ nhúc nhích và không một ai chết cả.
Lời gọi này không hề làm tôi sợ.
Bởi, như bạn có thể thấy, viết – nếu bạn hạnh phúc vì viết – xóa bỏ mọi phiền muộn.
(mượn bác Nhị Linh)
Thôi tôi lại đủng đà đủng đỉnh
H., kể ra cũng hơi tiêng tiếc một tị vì say No. Nếu mà hăng lên thì có thể cũng quay lại với vét tông thanh lịch xức nước hoa đeo túi Ferragamo đi chiến đấu. Chiến đấu, chiến đấu, chiến đấu. Nhưng chắc chắn vì tại thời điểm này offer đấy chưa đủ sức cám dỗ. Lý do chính:
thôi tôi lại đủng đà đủng đỉnh để quyết làm cho xong cái việc mà tôi đang thách thức tôi.
Good day! Tỉnh dậy thấy mình vẫn còn nguyên sự thảnh thơi để enjoy kiếp cù bơ cù bất đánh quả cho aliat và được tiếng ăn chơi an nhàn :I
Tuổi đá buồn (Trịnh Công Sơn) – nghệ sỹ Văn Vượng độc tấu guitar
Hành trình đi ngang triền dốc
Tôi đang nghe Thái Thanh hát Tuổi đá buồn. Chưa bao giờ nghe Thái Thanh hát nhạc Trịnh Công Sơn, đa phần chỉ nghe Khánh Ly. Đã mấy tuần nay đến lúc này mới “tự thưởng” ngồi nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Hy vọng là nhận ra những cái khác, những cái cần điều chỉnh. Bản thân trong lúc tập, lần đầu với lần hai đã thấy cảm giác khác đi mất rồi, thiếu tính chủ động và ổn định. Nhưng nói chung tôi cũng vẫn lờ mờ là mình phải “kỹ hơn” từ chỗ nào. Trước đây bản năng quá, chỉ dựa vào một “không gian sẵn có”. Được cái những lúc ấy thường tôi rất chủ động và quên chính mình để được làm một “người khác”.
Buổi trưa không quá nắng, lúc nhàn rỗi nghe nhạc thấy thèm vài thứ. Nghe Thái Thanh hát, bỏ qua mấy đoạn uốn éo thì hình như trưa nay Hà nội cũng có tí mưa nhẹ tênh tênh, cũng chẳng biết bắt nguồn từ đâu.
Đây là khoảng thời gian mà tôi đang yên tĩnh gặm nhấm nó với nhiều trạng thái khác nhau. Sẽ không ai biết bởi lối đi ở ngay dưới chân mình
————
Tôi nhớ một buổi trưa cách đây chừng 5 năm ở tầng 6 Metropole Lý Thái Tổ sau khi đi thăm khách hàng về sớm. Ngó qua cửa sổ ngân hàng nhìn ra sân khấu tròn ngoài trời của L’Espace rồi nổi hứng lách cách một mạch dài trong trạng thái “bị thuyết phục” bởi Murakami. Tuổi trẻ là một đặc quyền. Khi ấy người ta có thể dễ dàng viết ra mọi suy nghĩ đến tận cùng ngóc ngách của nó.
—————
Nhà 159 Âu Cơ
Bể cá
|
“And when I start having thoughts like this, the more I think about it, the less I can tell how much of the vividness is real and how much of it my imagination has invented. I feel as if I’ve wandered into a labyrinth. Has that ever happened to you?”
“Anh có nghĩ rằng công ty anh cần một mặt bằng khác rộng rãi hơn trước khi muộn mất không”. Vợ tôi hỏi. Nàng hay dùng từ “công ty anh” thay vì nàng có thể nói là “công ty mình”. “Anh cũng đang đi tìm suốt ấy chứ! Đến lúc cần một bộ mặt đàng hoàng hơn rồi”. “Thế thì anh chịu khó đọc báo tìm nhà đi, cứ lúc nào rỗi hai vợ chồng cùng loanh quanh xem sao!”. Rồi chúng tôi chuyển đến căn nhà này. Tôi thấy tất cả mọi việc đã diễn ra rất nhanh chóng và thuận lợi. Từ khi nàng bước vào cuộc sống của tôi, đây là lần thứ hai tôi chuyển chỗ ở. Lần đầu thì nàng khuyến khích tôi nên tập trung xây dựng một sự nghiệp riêng, không chung đụng, cho dù chỉ là về mặt danh nghĩa. Có lẽ, đó là thời điểm thích hợp để những khuyến khích của nàng có tác động mạnh mẽ đến quyết định của tôi. Cũng đến lúc tôi cần có một bước đột phá đầu tiên trong sự nghiệp của mình. Tôi tìm một văn phòng nhỏ ngay trung tâm thành phố, bắt đầu mở một công ty mới, và không quên dành ra một căn phòng nhỏ ấm cúng làm chỗ riêng tư cho mình. Tôi vẫn nhớ, cuối mùa đông năm trước, chúng tôi nhắn tin cho nhau cả đêm để tìm một cái tên cho công ty mới. Nàng gợi ý một số cái tên nghe có vẻ hay và đậm chất tính cách của nàng. Nghĩa là sau mỗi cái tên thường được gắn với một ẩn ý nào đó. Nhưng theo cách nghĩ của tôi, một cái tên tôi thích là một cái tên lạ tai, dễ nhớ, dễ đọc và hiện đại, không cần có ý nghĩa gì lằng nhằng. Cuối cùng, tôi cũng đề xuất một cái tên lạ hoắc và ngạc nhiên khi thấy nàng rất vui vẻ tán thành. Nhưng vẫn là cách của nàng, khi nàng nói thêm rằng thế thì từ một cái tên chẳng có ý nghĩa sâu xa gì, tôi sẽ làm cho nó được trở thành có nghĩa, điều ấy thiết thực hơn. Sang một mùa đông khác, chúng tôi cưới nhau. Từ khi nàng dọn về ở hẳn với tôi, cho đến lúc này, mọi thứ vẫn luôn suôn sẻ và tốt đẹp. Căn nhà mới tinh, to, rộng và tất nhiên là đẹp này có một bể cá dưới tầng hầm. Hôm đầu tiên dọn đến đây, vợ tôi phát hiện ra trong cái bể to hơn một khối ấy có sẵn một đôi cá nhỏ xíu. Có lẽ mấy bác thợ xây đã bỏ vào từ lúc nào. Tôi rất thích cá cảnh, và đã định bụng phải sớm nghĩ ra cái gì đó để bể cá thêm sinh động. Vợ tôi thì đủng đỉnh. Nàng bảo thôi cứ từ từ, trong bể có nhiều cung quăng, vả lại hai đứa chúng nó (cách nàng gọi đôi cá) đã tự sống được với nhau qua mấy tháng trời thì chắc là vẫn còn sống được thêm một hai tháng nữa trước khi cần chúng ta quan tâm tới. Chúng mình còn nhiều việc khác phải ổn định cái đã. Tôi thấy nàng cũng có lý. Việc thay đổi địa điểm không hề làm công việc của tôi gián đoạn. Mọi thứ vẫn luôn suôn sẻ và tốt đẹp. Nhà mới rộng rãi, công ty có đủ chỗ ngồi thoải mái cho mọi người. Nhiều nhân viên mới đã ra nhập công ty. Vợ tôi cũng bận hơn. Khi còn ở căn nhà cũ, nàng hay thu xếp về sớm ít nhất là hai hay ba lần trong tuần để nấu cơm tối. Bây giờ thì thêm cái cớ bếp chưa có, nên hầu như ngày nào nàng cũng về muộn. Có vẻ như công việc của nàng có cái gì đó căng thẳng và bế tắc. Mỗi tối, khi nàng rời nhà băng trở về, cũng là lúc còn mình tôi ngồi lại công ty. Sau đó chúng tôi ra ngoài ăn cơm bụi hoặc về ăn ké bố mẹ vợ, rồi quay lại nhà vào lúc hơn mười giờ đêm. Khi ngồi trong ô tô trên đường về nhà, lắm khi đang mải kể chuyện cho nàng nghe, quay sang đã thấy nàng ngủ gà ngủ gật từ lúc nào. Có hôm tôi chẳng kể gì, để kệ cho nàng ngủ thiếp đi trên quãng đường ngắn ngủi như thế. Có một điều quái gở là, nàng có thể ngủ gật trên xe ô tô của tôi trên đường về nhà, uể oải leo lên đến tầng 5, chui vào phòng, bật laptop nhưng rồi lập tức lại tỉnh như sáo trước màn hình. Trong lúc nàng ngồi check offline message trên yahoo (mà hầu như không mấy khi chat), hoặc đọc blog của nàng và của bạn bè nàng, tôi đã kịp tắm xong. Thấy tôi chuẩn bị mở DVD xem phim, nàng sẽ tạm rời bỏ cái laptop trong giây lát để tắm gội và quay lại ôm khư khư lấy cái laptop ngay lập tức rồi cười chí chá một mình. Tôi để ý, hôm nào tôi xem lại hoặc mở mấy bộ phim tình cảm như “In the mood for love”, “ 2046”, “Error” thì kiểu gì nàng cũng bỏ cái laptop và sán lại gần tôi, rồi chăm chú xem như muốn nuốt lấy từng mẩu lời thoại một. Hôm nào tôi bật các DVD mình thích, những cái liên quan đến thời Hít le, chiến tranh thế giới, hoặc phim dành cho những gã đam mê tốc độ, xe cộ, thích sưu tầm đồng nát (nàng gọi tôi là đồng nát), thì nàng yên tâm lướt web cả buổi cho đến khi phim kết thúc mới ngừng. Thỉnh thoảng nàng cũng chủ động xem phim cùng tôi. Nhưng để giữ nàng tập trung xem phim cả buổi, tôi sẽ chọn những phim thể loại phim tình cảm, hoặc là những phim có mô tuýp kiểu như: “Sát thủ chuyên nghiệp”, “ Bản danh sách của Shiller” hay “Crash”. À, mà thực ra lần đầu tiên xem Crash nàng đã ngủ gật ngon lành bên cạnh tôi. Hôm sau nghe tôi kể là hay, lại lén lún ngồi một mình xem lại. Chắc là để chuẩn bị bài cho blog? Tôi vẫn đùa trêu vợ tôi là gái có chồng nhưng vẫn độc thân. Nàng nói rằng vì vậy nên nàng mới đồng ý lấy tôi nhanh thế. Sống với tôi nàng cảm thấy cuộc sống nhẹ nhõm, hạnh phúc và yên bình. Quan trọng là nàng vẫn giữ được những thói quen xấu của mình, mà điển hình là thói quen vào internet trước khi leo lên giường ngủ. Nàng cũng tự nhận là nàng không phải mẫu người yêu thích công việc nội trợ, nhưng khi cần thì sẽ vẫn làm tốt và làm một cách có trách nhiệm. Điều này tôi hoàn toàn có thể tin được. Bằng chứng là trước khi lấy nhau, một trong những cái khiến tôi yêu nàng là nàng làm cái gì cũng nhanh mà vẫn đảm bảo chất lượng. Hồi ấy tôi hay được ăn cơm nàng nấu. Nàng nói rằng vì mẹ nàng bận việc phòng khám đến khuya mới về, em nàng bận học, chả nhẽ để bố nàng nấu cơm. Thế nên nàng vẫn có thể nấu cơm thường xuyên vì gia đình nàng luôn ăn tối muộn vào lúc 9 giờ. Mấy tháng nay, từ khi dọn sang nhà mới, nàng chưa nấu bữa cơm nào cho tôi ăn. Cái tội là vì chúng tôi chưa có bếp. Tôi cũng dễ nuôi, và nhìn chung là chiều nàng, nên chẳng kêu ca gì. Thôi thì chưa con cái gì, mà cả hai vợ chồng đều có tính lê la nên cứ tiện thế nào thì sống cái đã. Không nấu cơm nhà thì hai vợ chồng lại đi ăn bụi với mấy ông bạn già độc thân hoặc về ăn ké cơm bố vợ. Kể ra cũng tội cho ông bố vợ, từ khi nàng dọn ra khỏi nhà, bố già về hưu lại phải miễn cưỡng nhận trách nhiệm cơm nước. Bản tình ca ấy của chúng tôi cứ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Công việc của tôi thì luôn bận rộn, nhưng được cái đến tối tôi luôn cố giữ khoảng thời gian ấy cho riêng nàng. Tính nàng hay nghĩ ngợi. Mấy lần nàng đã định chuyển chỗ làm. Nhưng tôi thấy tiếc, lại khuyên nàng nên suy nghĩ kỹ. Nói gì thì nói, ở tuổi của nàng, có một công việc sạch sẽ, ổn định, thu nhập khá, thế là quá ổn. Nàng chỉ nên chọn một trong hai thứ, một là ở lại chỗ làm hiện tại và sinh con vào năm tới, hai là chuyển chỗ làm mới và hoãn lại việc sinh con. Những rắc rối và bận rộn trong công việc khiến nàng thường xuyên trong tình trạng căng thẳng và mệt mỏi. Lắm lúc tôi phì cười khi thấy nàng bỏ ngang quyển sách đang đọc, bặm môi, gõ gõ cái ngón tay trỏ lên thành giường và suy nghĩ một điều gì đó trong trạng thái bực mình tức tối. Rồi tự nhiên nàng hỏi: “Này, thế vợ có phải là người hiếu chiến và ghê gớm không nhỉ?” “Ghê gớm quá đi chứ! Cái mặt giả bộ hiền thôi chứ ghê gớm thâm nho thế này thì người ta còn đánh vào cái tính hiếu chiến ngầm của em. Khi nào mà em kệ được, thì em sẽ thắng”. Tôi đáp. Và thế là nàng nổi điên lên, nói một thôi một hồi xả stress lên tôi. Cứ như tôi là mấy kẻ đang làm nàng bực mình, đang khích cho nàng tự ái sẵn sàng tung hê mọi thứ. Rồi nàng bỏ xuống dưới nhà. “Ôi cái bể cá đầy cá rồi đây này!” nàng hét lên. Tôi chạy xuống. Chúng tôi chả quan tâm gì thế mà đôi cá cũng đẻ ra một lũ cá con. Cả đàn cá đến hai chục con, li ti, li ti trong suốt bám theo cá bố cá mẹ. Sau khi đẻ xong, cả hai con cá thay đổi một cách khó nhận ra. Chúng to ra và dài ra bằng nửa ngón tay út. Tôi cũng không rõ đây là loại cá gì. Trông thì giống cá bảy màu, nhưng không phải. Mình chúng trong suốt. Hai con cá lớn, giờ đây mỗi con có thêm một cái đuôi xoè ra màu đỏ chót. Nàng bảo, thế này thì bọn mình phải quan tâm đến lũ cá con thôi, không chúng thiếu thức ăn mà chết mất! Ngay hôm sau, trên đường đi ăn tối về, chúng tôi rẽ vào mua mấy nghìn giun cho lũ cá và háo hức đợi đến sáng thứ bẩy để cùng nhau đi mua thêm đồ thả vào bể cá. Từ hôm phát hiện ra đàn cá con, về đến nhà là nàng xà ngay xuống ngay tầng hầm ngồi ngắm đàn cá. Sáng thứ bảy cũng đến. Tôi và nàng lang thang cả nửa ngày mua đủ các thứ. Nào là vòi sục, thiết bị lọc nước, cây xanh, đá cuội, đá con. Hỏi ra thì mới biết đàn cá đang tung tăng trong bể bấy lâu có tên là Cá thuỷ tinh. Tôi mua thêm ba chục con cá nữa thả thêm nào, mỗi loại năm đôi. Chúng tôi hăm hở kỳ cọ đá, cắm thiết bị lọc nước, thả cây, thả cá vào. Ngắm nhìn những con cá nho nhỏ nhiều màu sắc khác nhau tung tăng bơi lội. Tôi thấy thế là tôi và vợ tôi có thêm một việc phải quan tâm chung là chăm lo cho lũ cá khỏi bị đói. Nàng có vẻ yêu lũ cá thuỷ tinh nhất. Vì chúng là những cư dân lâu đời ở cái bể này. Và theo như nàng nghĩ, nàng nói, thì nó là hiện thân của sự sinh sôi nảy nở và sự may mắn khi chúng tôi dọn đến đây. Tôi luôn gọi nàng là con người của ngày hôm qua, mỗi khi nàng ra cái vẻ triết lý mùi mẫn như thế. “Làm gì đến nỗi thế!”, nàng nói, “Phải rất yêu những khoảnh khắc mình đang sống thì mới có được một cái cảm giác sở hữu vĩnh viễn tất cả các giây phút trong đời mình. Anh đừng có ghen tị, vì chẳng có gì quý giá hơn hiện tại cả. Trân trọng và yêu thương hiện tại có nghĩa là đã sống tốt cho cả quá khứ và tương lai đấy chứ”. Nàng ra vẻ như vậy. Còn tôi bật cười rất vô tư, câu này tôi vẫn nghe quen quen ở đâu đó. Tôi hiểu, nàng là người sống tình cảm, nhiều lo âu và có trách nhiệm cho dù cái vẻ bên ngoài lúc nào cũng như chỉ chực thay đổi một điều gì đó. Mỗi ngày đám cá lại lớn thêm một tí. Cái này phải kể đến công sức của một cậu nhân viên trong công ty. Cậu ta yêu lũ cá hệt như hai chúng tôi. Cứ cách hai hôm lại thấy cậu đến văn phòng đem theo một túi giun làm quà cho chúng. Còn nàng, nàng có thêm thói quen là cho cá ăn mỗi khi về đến nhà. Lắm khi tôi phát bực vì cái tính phóng khoáng không phải lối của nàng. Cá đã ăn giun cả ngày, chiều tối nàng về lại cho chúng ăn thêm một thứ thức ăn giống như bánh đa có mùi tanh tanh của tảo biển. Và cái tính phóng khoáng vô lối ấy của nàng đôi lúc đã gián tiếp gây ra cái chết của một vài con cá vàng phàm ăn tục uống. Tôi góp ý, thì nàng cười nhăn nhở, và lý giải một cách dã man rằng, “Mấy con cá đấy ngu ngốc thế thì chết sớm là phải rồi. Mới cả, vợ ghét cá vàng, nên mới cho chúng nó ăn nhiều đấy!”. Thật tôi không biết phải nói gì ngoài cách véo tai nàng mấy cái cho bõ ghét. “Ôi, tự nhiên bọn cá thuỷ tinh chửa một loạt!” Nàng hoan hỉ báo tin cho tôi biết. Thử làm một phép tính xem, hai con cá F1 cho ra đời độ hai chục con F2, rồi gần chục con F2 chửa, rồi mỗi con lại cho ra độ hai chục con F3 nữa. Tôi thầm nghĩ, cứ cái đà này khéo bể nhung nhúc toàn là cá thuỷ tinh. Từ hôm biết có nhiều con cá thuỷ tinh đang mang bầu (nàng gọi thế), nàng rất chăm chỉ quan sát chúng. Giống như mẹ chồng chăm sóc nàng dâu lúc sắp có cháu nội. Cứ liên tục như thế một thời gian, nàng buồn rầu quả quyết với tôi là có nhiều con đã đẻ rồi, nhưng không thấy cá F3 đâu. Rồi nàng đổ tại và nghi ngờ một trong hai bọn hung thủ mang tên “Cá se cam” và “Cá mú đen” ở trong bể. Nàng nói, bọn se cam dạo này to nhanh quá, mười con thì cả mười con đều to béo, đi đâu cũng sùng sục cả đàn. Thả thức ăn xuống thì nhoằng một cái đớp ngọn lấy miếng mồi. Con cá mú to thì đen sì trông như con quái vật, nhưng nó có vẻ hiền lành và ăn uống rất từ tốn. Nàng quả quyết se cam là hung thủ ăn cá thuỷ tinh sơ sinh. Tôi gạt phắt đi, trong suy nghĩ của tôi, cả mấy loại cá tôi thả trong bể đều là cá nhỏ và hiền lành. Nàng bực lắm. Cuối cùng, một hôm tôi đành xác nhận là sự nghi ngờ của nàng đã đúng. Cậu nhân viên và tôi đã để tâm chú ý. Có hôm sáng ra rõ ràng nhìn thấy một đám cá thuỷ tinh li ti mới đẻ thế mà đến chiều kiểm tra lại, chúng biến đâu sạch. Nàng ra cửa hàng bán cá, hỏi rõ lại về đặc tính của loài se cam rồi ấm ức, rõ ràng bọn se cam là hung thủ ăn thịt cá thuỷ tinh sơ sinh và là nguyên nhân vì sao có những vết rách trên những cái đuôi đỏ chót kiều diễm của bọn cá thuỷ tinh mẹ và bọn cá bẩy màu. Tôi tưởng nàng sẽ bắt tôi vớt hết bọn se cam ra khỏi bể, nhưng nàng lại chẳng định làm gì cả. Nàng bảo, cố gắng cho bọn se cam ăn no hơn nữa, chắc chúng sẽ không ăn thịt cá F3 của nàng. Tôi thích bọn se cam vì chúng đẹp, mạnh khoẻ và luôn bơi thành đàn rất hùng dũng. Tuy là cá nước ngọt, nhưng nhìn hệt như cá nước mặn. Tôi cũng kệ, đang chờ xem sắp tới có lượt cá F3 nào bị ăn thịt hay không. Mùa đông đang đến ngoài kia. Vợ tôi bắt tôi phải làm cho xong căn bếp. Và tôi cũng chiều nàng, làm cho nàng một căn bếp ngay trên sân thượng, sát căn phòng chúng tôi ở. Nàng phấn khởi lắm, viết cả blog và hỏi thăm tiến độ mỗi ngày. Có một điều, tôi nhận ra, có lẽ một hai tuần này nàng hay nói cười và nhẹ nhõm hơn hẳn. Vì bể cá, vì căn bếp, hay vì nàng đã xác định không chuyển chỗ làm, yên tâm với công việc và chờ đợt tăng lương mới? Tôi vẫn hay đọc blog của nàng mỗi ngày. Blog là thói quen nàng khó từ bỏ với lý do để quên bớt đi công việc của nàng là một đống khô khan và tính toán. Nàng có một con người khác, thật hơn, liên quan đến nhạc nhẽo, hay suy nghĩ vớ vẩn và viết lách linh tinh. Đó cũng là cách duy nhất để nàng cảm thấy vẫn được chia sẻ và giao lưu với mấy người bạn thân thiết của nàng. Lại nói đến chuyện blog. Tôi cũng tự hỏi, liệu nàng có xa rời cuộc sống hiện hữu quá hay không khi mà nàng không thể từ bỏ thói quen lên internet vào đọc blog của bạn bè hay thỉnh thoảng chát chít với mấy người bạn cũ. Nàng luôn đề cao và yêu quý những người bạn này. Thú thực sau một vài lần gặp, và đọc trên blog, tôi cũng thấy họ là một nhóm có thể chia sẻ với nhau về mặt tinh thần, có nhiều thói quen và sự quan tâm giống nhau. Có thời gian tất cả bọn họ đã ngồi thân thiết bên nhau trong một quán cà phê cũ hay một quán rượu ở Hà nội. Sau đó mỗi người hoặc ở lại, hoặc rời xa để đi trên con đường riêng của mình, và rồi bây giờ thường xuyên quan tâm giãi bày trên cái chỗ 360 độ loanh quanh này. Liệu nàng có xa rời cuộc sống hiện hữu quá không? Nàng luôn trả lời là không. Vì nàng coi đó là một phần trong cuộc sống thật của nàng. Nàng có nhu cầu vào internet, có nhu cầu viết lách một cái vớ va vớ vẩn gì đó, thường thì toàn là những cái lo âu, hãi sợ, xao xuyến, cô đơn của riêng mình nàng. Điều đó không có nghĩa là cái gì nàng viết trên blog cũng thật sự tồn tại trong cuộc sống offline của nàng, và ngược lại. Nàng không có ý định bỏ đi thói quen ấy. Theo nàng, đó cũng là một cách để nàng sống thật hơn với con người bên trong của mình. Con người bên ngoài, nàng đóng vai nhân viên phòng Tín dụng trong một Ngân hàng Nhật buồn tẻ và kỳ dị. Quay lại với cái bể cá của chúng tôi. Niềm quan tâm chung của chúng tôi. Sáng nay nàng bảo, sau giờ chiều tôi đến đón nàng ở ABC vì nàng sẽ đi khám phụ khoa và hỏi ý kiến bác sỹ về việc chuẩn bị cho kế hoạch sinh con. Cái dự định mang tính chủ động này có vẻ hơi khác lạ so với cá tính của nàng. Có vẻ như, nàng bắt đầu có ý định chăm sóc đến bản thân mình một cách có ý thức hơn. Nàng thuộc loại người không biết chăm sóc tỉ mẩn đến bản thân mình. Bằng chứng là cả một năm nay, sau đợt tiêm kháng sinh vì ho nặng, mặt nàng nổi mụn, nhưng tôi giục chán chê nàng mới chịu đi chăm sóc da mặt. Đi được vài lần lại bỏ. Vẫn biết, tôi yêu nàng vì cá tính và quan điểm sống của nàng chứ không đơn giản chỉ vì da mặt nàng nhẵn nhụi, vì nụ cười hiền lành, vì cái mũi hếch bướng bỉnh, hay vì đôi mắt biết nói của nàng. Nhưng nhiều khi tôi thấy bực mình, thấy xót xa cho cái sự lười biếng của nàng. Với nàng, việc da nổi mụn và xấu xí đi chưa bao giờ làm nàng phát hoảng như nhiều cô gái khác. Để thanh minh cho mình, nàng nói: “Con người không tồn tại bởi lẽ con người trong thế giới và bởi lẽ có vị trí của nó trong thế giới, mà vị trí con người trong thế giới chỉ đích thực có thể có được do con người tồn tại với tư cách là con người và do bản chất con người của nó.” Nghe có đau đầu không? Nàng đi làm rồi. Bây giờ tôi đang đứng ngắm bể cá. Cả se cam lẫn thuỷ tinh đều vẫn tung tăng một cách khoẻ mạnh. Mấy con thuỷ tinh mang bầu to bơi hơi chậm hơn những con khác một chút. Tôi nghĩ đến chuyện vớt chúng ra và thả riêng vào cái bể thuỷ tinh mới mua chiều qua. Nhưng nghĩ thế nào, lại kệ. Lo âu, xao xuyến, sợ hãi và cô đơn nhiều khi cũng là một cái gì đó đơn giản. Nó giúp ta được thoát khỏi cái cảm giác bị giam giữ trong một đời sống tẻ nhạt thường ngày. Tôi nhìn lũ cá, và mỉm cười khi nhớ đến cái lè lưỡi của vợ tôi sáng nay. GT. (vớ vẩn trong giờ nghỉ trưa 29.11.06) - The Wind-Up Bird Chronicle by Haruki Murakami- |
Lại một trận cúm nữa (*)
Con bạn lớp Đại học mình nửa đêm bên Mẽo không ngủ được lôi em Giang Trang (2001) ra bật băng. 9 năm trôi qua rồi, kinh thật. Hồi xưa ngoài Trở lại làng gốm (2001) thì mình cũng thích mấy bài của bác Đạt - Gạt tàn đầy, đi nghe rock show toàn mang Sony walkman ra thu lại :-D
Ôi 9 năm 9 năm. Hôm nọ các bạn rủ nhau đi xem bói ôn lại một thời tuổi trẻ 9 năm về trước. Bà thầy bói bảo mình sắp sửa đến vận có công việc mới nhiều tiền. Xưa đi xem bói, cô Mai chỉ chăm chăm nói chuyện tình duyên . Nay đi xem bói, cô Tịnh bỏ qua đoạn tình duyên vào thẳng vấn đề kiếm tiền. Thôi tạm hoãn chuyện tiền với tình, khoảng thời gian này quyết tâm bỏ trống tí tởn tìm một thứ chưa dám làm (và tưởng như đã mất), đấy là sờ râu – ông – nghệ thuật
——
(*) Sáng nay chính thức lan truyền thêm trận cúm tiếp theo. Bạn Tròn và bạn Bơ sữa đều phải rửa mũi và uống thuốc. Còn mình có vẻ khỏe và khỏi đến nơi rồi
Con yêu mẹ
Tối qua mẹ về đến nhà, cơm xong thì bố phải xuống xưởng gỗ có chút việc. Mẹ đánh răng rửa mặt thay quần áo ngủ cho em xong, trong lúc đợi mẹ đánh răng, em đứng ở cửa toilet hào hứng: Mẹ Trang ơi mẹ Trang, con yêu mẹ lắm. Yêu nhiều…nhiều…nhiều thế này này (lại vòng tay lên trời ôm ra không trung). Mẹ đánh răng xong mẹ đi ngủ mẹ ôm Hạnh Nguyên nhé!
Mẹ sướng quá đánh răng thật nhanh để vào ôm hun đồng chí rối rít, rồi tắt đèn và hai mẹ con lăn kềnh ra đệm. Đồng chí trèo lên bụng mẹ vuốt má mẹ, nàng mở giọng tâm sự: Con sắp đi học trường mới mẹ ạ! Mẹ (hơi ngạc nhiên): Sao con biết? Nguyên: Bố đạp xe chở Nguyên đi xem trường mới sau nhà rồi, có bể bơi to lắm mẹ ạ. Mẹ: Thế con có đồng ý không? Nguyên: Con đồng ý mẹ ạ, trường mới gần nhà, bố bảo sẽ tốt hơn mẹ ạ. Mẹ: Nếu vậy con có nhớ trường Koalahouse và hai mẹ ở lớp không? Nguyên bò lên áp má vào mẹ, em thủ thỉ: Con nhớ mẹ ạ. Nhưng bố bảo còn học trường Koalahouse một kỳ nữa. Thỉnh thoảng sẽ đến thăm anh Tun, mẹ Minh Anh, mẹ Thắm mẹ ạ. Mẹ thơm đồng chí rối rít mẹ ồi ồi, con chó con của mẹ bà già thế. Sau màn sến thì chuyển sang màn cù nhau rồi lăn quay ra ngủ. (Dạo này Nguyên rất tiến bộ, hết giờ chơi đánh răng rửa mặt xong bố mẹ bảo đi ngủ là ngủ được ngay, đúng giờ, không cần bố mẹ hát ru, xoa lưng hay đọc truyện thật lâu như trước)
11h 30 bố Hải về. Bố mở cửa hơi mạnh và em thức dậy. Nguyên bảo: Bố Hải có vào ngủ với con không ạ? Bố: Con đợi bố tí nhé! Ngay lập tức nàng đổi giọng: Mẹ Trang ra ghế nằm ngủ đi!!
Ặc ặc ranh con, hễ bố về là hắt hủi mẹ ngay lập tức! Như mọi khi nàng lại chen vào giữa bố mẹ. Nàng lấy tay đẩy mặt mẹ quay ra ngoài, mẹ không được quay mặt vào bố. Sau đó nàng rúc nách bố ngủ khỉ. Mẹ đành thở dài lầm bầm nghĩ đùa (như cái bác gì chú Cương kể ấy) là nàng có biết nàng đã chiếm hữu chồng tôi hơn 2 năm nay rồi không
———————
Hôm nay 1.6. Chúc nàng và tất cả các bạn nhí có tuổi thơ luôn hạnh phúc cùng bố và mẹ nhé!
Con yêu Mẹ
Xuân Quỳnh
Con yêu mẹ bằng ông trời
Rộng lắm không bao giờ hết
- Thế thì làm sao con biết
Là trời ở những nơi đâu
Trời rất rộng lại rất cao
Mẹ mong bao giờ con tới!
- Con yêu mẹ bằng Hà nội
Để nhớ mẹ con tìm đi
Từ phố này đến phố kia
Là con gặp ngay được mẹ
- Hà nội còn là rộng quá
Các đường như nhện giăng tơ
Nào những phố này phố kia
Gặp mẹ làm sao gặp hết!
- Con yêu mẹ bằng trường học
Suốt ngày con ở đấy thôi
Lúc con học, lúc con chơi
Là con cũng đều có mẹ
- Nhưng tối con về nhà ngủ
Thế là con lại xa trường
Còn mẹ ở lại một mình
Thì mẹ nhớ con lắm đấy
Tình mẹ cứ là hay nhớ
Lúc nào cũng muốn bên con
Giá có cái gì gần hơn
Con yêu mẹ bằng cái đó
- À mẹ ơi có con dế
Luôn trong bao diêm con đây
Mở ra là con thấy ngay
Con yêu mẹ bằng con dế
Đêm nước cuốn – Phạm Quang Trần Minh
Bài viết của bác Thiên Ca – Facebook http://www.facebook.com/profile.php?id=1210278801#!/profile.php?id=1210278801
——–
Đây là link để nghe Đêm nước Cuốn:
http://www.esnips.com/web/DemNuocCuon
http://nhac.vietgiaitri.com/album-nhac/dem-nuoc-cuon-672.vgt
……………………

Album mở đầu trong tiếng trống percusion và tiếng guitar thùng tí tách như những giọt mưa đổ tràn vào kỷ niệm: “Ngày xưa còn bé tôi đi trên con đường đê, và tôi còn nhớ mưa bay theo những cánh diều. Ai mang theo gió để nâng đôi cánh diều…” (Cánh diều chiều mưa). Giọng hát ram ráp, sâu lắng của ca sĩ Lan Hương (5 Dòng Kẻ) cùng tiếng guitar khoan thai của tác giả. Một bản ballad đẹp và trong lành mỹ mãn cho sự khởi đầu bất cứ đĩa nhạc nào.
Liên tục những ca khúc Blues mộc mạc tái hiện làng quê Việt Nam hay những con đường Hà Nội một thời. Vừa xa, vừa gần, khán giả lạc vào thế giới âm nhạc kỳ lạ của Trần Minh.
Hầu hết các ca khúc trong album Đêm nước cuốn của Phạm Quang Trần Minh đều được chơi mộc với guitar thùng và trống percusion – ngẫu hứng và truyền cảm. Chất blues grass tự sự, giản dị được tác giả thổi hồn qua tiếng guitar luyến láy, cách tân. Với kỹ thuật của một tay guitar lead sừng sỏ một thời trong ban nhạc Rock gần như là đầu tiên của Hà Nội – Những Bậc Thang, khán giả cảm giác như đang nghe một album nhạc đồng quê của Mỹ nhưng lại vô cùng gần gũi với gánh hàng rong, triền đê, cánh diều của nông thôn Việt Nam…
Đêm nước cuốn của Minh xuất hiện trên thị trường vào cuối năm 2005. Một album mang tính cách mạng trong lịch sử ghi âm Việt Nam – một tuyệt tác đẳng cấp Hi – end không thể thiếu trong bộ sưu tập của bạn. Nhưng hơn hết đó là hồn quê hương, xứ sở được hát lên một cách trân trọng với nỗi ấp ủ, trăn trở suốt nhiều năm của tác giả.
Thật tiếc vì điều kiện khó khăn nên album không được phát hành rộng rãi. Mình nhớ hồi đó mua được Đêm nước cuốn là vì tới 135 Hàng Bông lùng đĩa Rock, ông chủ quán mở bài đầu Cánh diều chiều mưa – ca khúc dễ nghe nhất, dịu ngọt nhất của album để… câu khách. (Sau này Cánh diều chiều mưa được cover lại nhiều lần và được nhiều người yêu thích. Nhưng những ca khúc khác trong album lại gần như mất tích, thật tiếc). Mình bảo ông chủ chuyển bài nhưng cụ nhất định không chịu. Mua đĩa về và nghe đến bài thứ 2 thì mình choáng.
Không thua kém bất cứ một đĩa nhạc quốc tế nào mình từng nghe. Cả hội bạn của mình cũng bị mình đầu độc nghe đĩa này mê mải.
Phải đến vài năm sau có dịp gặp anh Minh Xù, khi mình và Tuấn Gà lên HN nhờ người phối khí mấy bài hát của Tuấn.
Nhà anh ở phố Quán Sứ, ngõ nhỏ, nhà cổ im ắng (ngoài tiếng con chó cưng của anh sủa nhặng lên). Anh Minh nhìn giản dị, dễ mến với phong cách ăn mặc cổ điển rất Liên Xô cũ. Trông anh như kẻ lạc vào thế kỷ 21, phiêu lãng và ấm áp.
Lần trước anh vào SG chơi nhạc thử nghiệm với anh Nhật Tân thì mình lại bận không đi xem được, thật tiếc. Mình mong anh sẽ còn cho ra mắt những đĩa nhạc như Đêm nước cuốn.
Đại bác (*)
Sau 10 năm đã có thể nhìn ảnh cũ không nhận ra mặt bạn thân. Nhìn mặt bạn không thân chẳng nhớ ra tên. Và tệ hại hơn là quên ngày sinh nhật của bạn cũ trong khi bạn chưa bao giờ quên chúc mừng sinh nhật mình :p
Sau 10 năm và rất lâu không liên lạc tâm sự chợt nhận được 1 cú điện thoại chừng 1 tiếng rưỡi đồng hồ của một người bạn thân (bạn gái, từng rất gắn bó) kể rằng 10 năm bạn đi khỏi Hà nội giờ giật mình thấy như một cái chớp mắt khi bố mẹ già ở nhà đã qua tuổi 60 mà đang dắt nhau ra tòa lần thứ 3 cũng chưa xong. Một trong hai người già muốn enjoy cuộc sống mới, cuộc sống ít có sự vắng mặt hơn. Nếu không có sự hiện hữu của con cái thì gia đình chắc không được gọi là một gia đình.
”Người chết cũ phải nhường chỗ cho người chết mới” (Những mối tình nực cười – Milan Kundera). Đọc để một lần nữa thấm thía rằng thời gian và tuổi trẻ trên thực tế qua đi nhanh chóng hơn nhiều so với những gì người ta vẫn thường nghĩ. Ký ức chỉ có thể kéo dài ảo tưởng của tuổi trẻ trong tâm hồn. Nhưng ký ức không thể nuôi dưỡng tình yêu để đánh bại hoàn toàn sự lão hoá mà con người (trong một khoảnh khắc khát khao nào đó) đã lầm tưởng rằng có thể quên đi quy luật già cỗi rất đỗi hiển nhiên này.
————
(*) Tôi còn phải nhớ từ này rất lâu, nickname do một người bạn cũ gọi, đến giờ cũng không hiểu bạn gọi mình theo nghĩa gì. Lấy làm tiêu đề vì lúc gõ entry này đang văng vẳng ca từ Đại bác ru đêm (Trịnh Công Sơn).
Từ 18 đến 30, ta đã lớn và Puskin đã chết:

The return – Gu Cheng
The Return
Gu Cheng
don’t go to sleep, don’t
Dear, the road is long yet
don’t go too near
the forest’s enticements, don’t lose hope
write the address
in snowmelt on your hand
or lean on my shoulder
as we pass the hazy morning
lifting the transparent storm curtain
we’ll arrive at where we are from
a green disk of land
around an old pagoda
there I will guard
your weary dreams
and drive off the flocks of nights
leaving only bronze drums, and the sun
as beyond the pagoda
tiny waves quietly
crawl up the beach
and draw back trembling
Bản dịch của anh Linh:
Cố Thành (Trung Quốc)
Đừng ngủ, đừng, em
Em yêu, đường còn dài
Đừng đến gần cạm bẫy của rừng
Đừng mất hy vọng
Hãy viết địa chỉ
Lên tuyết ướt trên tay
Dựa vai anh
Khi mình qua ban mai sương phủ
Vén bức màn bão giông trong suốt
Mình sẽ đến nơi mình từ đó ra đi
Một vạt đất xanh
Quanh ngôi chùa cổ
Ở nơi đấy, anh sẽ đứng gác
Canh giấc mơ em ưu phiền
Xua đi những bầy đêm tối
Chỉ còn lại trống đồng, và mặt trời
Ở bên ngoài ngôi chùa
Những con sóng nhỏ xíu
Lặng lẽ bò lên bờ biển
Rồi run rẩy rút về.








